Bài viết từ chuyên gia

NHỮNG SÁNG KIẾN GIÚP CHO Ô TÔ TRỞ NÊN HIỆN ĐẠI, AN TOÀN

Những phát minh, đổi mới dưới đây sẽ cho chúng ta thấy công nghệ đã có những bước tiến xa thế nào kể từ khi những cỗ xe không cần ngựa kéo xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 nhé. Mời các bạn cùng Bridgestone tiếp tục tìm hiểu thêm trong phần 3 nhé.

HỘP SỐ TỰ ĐỘNG - LÁI XE DỄ HƠN

Hộp số tự động hoặc tự chuyển số là một sự cải tiến lớn trong ngành chế tạo ô tô. Hệ thống tự động giúp giải phóng tài xế khỏi việc phải thay đổi tỷ số truyền động bằng tay khi xe đang trong quá trình di chuyển.

Mặc dù sự phản hồi kém hơn và dễ bị lỗi hơn so với hộp số tay nhưng sự cải tiến này đã giúp tài xế bớt đi một việc cần làm khi lái xe. Công nghệ này cũng thực sự có ích cho những người khuyết tật.

Hộp số tự động này ban đầu được phát triển vào năm 1921 bởi Alfred Horner Munro, là người Canada.

HỆ THỐNG LÁI TRỢ LỰC - VIỆC LÁI XE TRỞ NÊN NHẸ NHÀNG HƠN

Thiết bị lái bằng điện hay còn gọi là hệ thống lái trợ lực (PAS) là một cải tiến lớn khác trong kỹ thuật ôtô, giúp cho việc lái xe trở nên nhẹ nhàng hơn.

Các phiên bản đời đầu của hệ thống lái trợ lực đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1876, 1902 và 1904, nhưng không có phiên bản nào được đưa vào sản xuất cả. Hệ thống thực tiễn đầu tiên được phát minh vào năm 1926 bởi ông Francis W. Davis. Sau đó, ông ấy đến làm việc tại General Motors (GM) và tiếp tục hoàn thiện các mẫu thiết kế của mình.

Chrysler Corporation là công ty đầu tiên trong việc thương mại hóa hệ thống lái trợ lực trên xe chở khách, khi tích hợp hệ thống này vào chiếc Imperial 1951 của hãng. GM sau đó cũng đã nhanh chóng làm theo với chiếc Cadillac đời 1952.

Ngày nay, khi mà hầu hết các xe ôtô đều được trang bị hệ thống lái trợ lực.

TÚI KHÍ - CỨU MẠNG NGƯỜI

Sau dây an toàn, thì túi khí là một trong những phát minh quan trọng nhất của ngành chế tạo ôtô. Túi khí được thiết kế để bơm căng cực nhanh khi xe xảy tình trạng ra va chạm, và có thể xì hơi ngay tức khắc để tránh tạo sức ép lên lồng ngực người ngồi trên xe. Hàng nghìn mạng sống trên thế giới mỗi năm đã được cứu kể từ sau khi công nghệ này được áp dụng đại trà trong ngành sản xuất ôtô.

Túi khí có thể bắt nguồn từ bóng chứa khí được sử dụng từ năm 1950. Phát minh này còn ghi nhận công lao của John W. Hetrick, người đã đăng ký bằng sáng chế của mình vào năm 1951. Một hệ thống tương tự cũng được Walter Linderer đăng ký bằng sáng chế tại nước Đức cùng thời điểm đó. Cả hai hệ thống đều sử dụng khí nén được kích hoạt bằng lò xo, va chạm hoặc bằng tay của tài xế.

Bước ngoặt lớn của túi khí là bắt đầu từ những năm 1960 khi mà công nghệ cảm biến va chạm được ứng dụng rộng rãi. Các hãng xe lớn lâu đời như Mercedes-Benz, GM, Ford và Chrysler đã lắp đặt túi khí vào xe của mình từ những năm 1970, nhưng phải đến những năm 1990 thì bộ phận này mới trở thành trang bị tiêu chuẩn không thể thiếu trên ô tô.

ĐỘNG CƠ XE ĐIỆN - CÂU CHUYỆN CỦA QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI

Động cơ xe điện đã được tồn tại lâu hơn nhiều so với chúng ta nghĩ. Chiếc xe điện đầu tiên đã xuất hiện tại London từ năm 1884.

Một mẫu xe điện cổ khác là của Flocken Elektrowagen, sản xuất tại Đức vào năm 1888. Chiếc xe này chạy bằng động cơ điện, cùng với động cơ của hơi nước, thực sự bán chạy hơn loại xe chạy bằng động cơ đốt trong vào những năm đầu của thời đại ôtô, ít nhất là trước khi ra đời thì động cơ khởi động điện.

Những chiếc xe điện đời đầu thì lại khá phổ biến vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, vì chúng mang đến một mức độ thoải mái và dễ dàng sử dụng mà các công nghệ khác không đạt được vào tại thời điểm đó. Người ta ước tính đã có khoảng 30.000 chiếc xe như vậy đã được sản xuất vào đầu thế kỷ 20.

Mặc dù vậy, thì động cơ đốt trong cuối cùng đã chiến thắng, đẩy những chiếc xe điện đi vào bóng tối cho đến thời kỳ phục hưng vào cuối thế kỷ 20.

GPS - ĐƯA ĐƯỜNG CHỈ LỐI

GPS, hay còn gọi hệ thống định vị toàn cầu, ban đầu được chính phủ Mỹ phát triển để sử dụng cho các lực lượng vũ trang. Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD) đã quyết định việc cho sử dụng các vệ tinh để hỗ trợ một hệ thống dẫn đường mới. Hệ thống định vị đầu tiên với công cụ tính thời gian cũng khoảng cách (NAVSTAR) ra mắt vào năm 1978.

Hệ thống GPS đầu tiên đã sử dụng 24 vệ tinh và hoạt động một cách hoàn chỉnh vào năm 1995, nhờ vào công của Roger L. Easton, Ivan A. Getting và Bradford Parkinson.

Việc phổ cập GPS cho mục đích dân sự đã được cấp phép từ đầu những năm 1980. Hiện nay, hệ thống này làm việc dưới sự quan sát của 31 vệ tinh và được tích hợp vào nhiều công nghệ hiện đại, từ chiếc điện thoại thông minh cho đến ôtô, tạo nên cuộc cách mạng điều hướng.

Bài viết liên quan

Lốp ôtô bị mòn không đều do những nguyên nhân nào?

Lốp ôtô dự phòng, thay tạm thời hay tiếp tục sử dụng?

Lốp xe ô tô Dunlop của nước nào? có tốt không?

Lốp Michelin và Bridgestone có gì khác?

LỐP DỰ PHÒNG LÀ GÌ? CÓ TÁC DỤNG NHƯ THẾ NÀO?

LỐP Ô TÔ DỰ PHÒNG, THAY TẠM THỜI HAY TIẾP TỤC SỬ DỤNG?

Lốp xe ô tô Continental của nước nào? có tốt không?

LỐP XE ÔTÔ VÀ NHỮNG DẤU HIỆU NHẬN BIẾT CẦN CHÚ Ý

LÝ DO KHIẾN NHIỀU TÀI XẾ TIN DÙNG LỐP KHÔNG SĂM ƯU ĐIỂM

Lốp ô tô bị chửa có nguy hiểm ?

Lốp tồn kho có nên sử dụng không ?


Hotline Zalo
Loading...
×